This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Có phòng được nám da?

Đặng Thị Hồng Nhung (hongnhung@gmail.com)

Nám da khi mang bầu là băn khoăn thường gặp của chị em, thực tế cho thấy có tới 50-70% phụ nữ mang thai bị nám da. Nám da này hoàn toàn lành tính, xảy ra khi một nhóm các tế bào da sản xuất melanin được kích hoạt nó sản xuất nhiều sắc tố hơn khiến da trở nên tối hơn. Nám da xảy ra với tất cả các loại da và màu da, nhưng với những phụ nữ có màu da trung bình, nám da thường nhiều nhất. Mặc dù nám thường xuất hiện ở 3 tháng đầu và 3 tháng giữa nhưng nó cũng có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong thai kỳ. Nám da thường có khuynh hướng di truyền; Việc tiếp xúc với tia cực tím từ ánh nắng mặt trời cũng là một yếu tố gây nám da do vậy những người làm việc ngoài trời dễ bị nám da. Các hormon đặc biệt là estrogen cao trong thời kỳ mang thai cũng tăng nguy cơ bị nám. Nám có thể biến mất sau sinh mà không cần điều trị, nhưng đa số các bệnh nhân là mạn tính và có thể kéo dài trong nhiều năm.

Phòng ngừa bằng cách bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời như đội mũ nón rộng vành, mặc quần áo chống nắng khi đi ngoài trời. Hầu hết các phương pháp điều trị nám thường không an toàn khi mang thai hoặc trong thời gian cho con bú, vì vậy bạn nên cân nhắc những rủi ro và lợi ích. Một điều bạn nên biết là nám da chỉ có triệu chứng là đổi màu da còn nếu kèm đau hoặc ngứa hãy đến bác sĩ da liễu khám để được hướng dẫn điều trị đúng.

BS. Vũ Lan Anh

Cảnh báo nguy hiểm khi tự ý dùng an cung ngưu hoàng hoàn

An cung ngưu hoàng hoàn - cứu cánh hay “kẻ giết người”

Tai biến mạch máu não, hay nhồi máu cơ tim là các căn bệnh nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao, bệnh không chỉ gặp ở người lớn tuổi mà gặp cả ở người trẻ, số ca tai biến mạch máu não ở người dưới 50 tuổi ngày càng tăng nhanh. Trong đó, tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế ở người bệnh.

PGS.TS Đậu Xuân Cảnh- Giám đốc Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam

Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam có hơn 200.000 người bị tai biến mạch máu não, số người tử vong rất cao và 90% những người sống sót phải sống chung với các di chứng về thần kinh và vận động. Không chỉ chứng kiến mà còn có các trải nghiệm của người thân đã từng bị tai biến, nhiều người tỏ ra lo sợ căn bệnh mang tên “tai biến mạch máu não”. Và an cung ngưu hoàng hoàn xuất hiện như một “cứu cánh” cho họ.

Tại Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sĩ đã từng cấp cứu cho một bệnh nhân uống an cung ngưu hoàng hoàn để phòng tai biến, hậu quả là bệnh nhân xuất huyết ồ ạt, suy gan phải nhập viện cấp cứu. PGS Cảnh cho biết, cũng có một số trường hợp khác từng cấp cứu do tự ý dùng thuốc một cách thái quá, gây hậu quả xuất huyết phủ tạng, thậm chí đa phủ tạng.

Không tự ý dùng thuốc an cung ngưu hoàng hoàn

Nhiều người cho rằng, tai biến mạch máu não là do các mảng bám, xơ vữa động mạch, khiến xuất hiện các cục máu đông, trong khi đó an cung ngưu hoàng hoàn được cho là “thần dược” để làm tan các cục máu này. Thậm chí có bệnh nhân còn chia sẻ, người giàu mới có tiền mua thuốc này để uống vì giá thành một viên thuốc lên tới tiền triệu. Người ta thường mách nhau uống ngay khi chưa bị tai biến với suy nghĩ “dọn dẹp” trước các mảng vữa xơ chứ đợi đến khi xảy ra nhồi máu não rồi mới uống không kịp.

Nguy hiểm khi tự dùng thuốc an cung ngưu hoàng hoàn

Chia sẻ về vấn đề này, PGS.TS Đậu Xuân Cảnh cho rằng, nên xác định trước, an cung ngưu hoàng hoàn là loại thuốc chữa bệnh chứ không phải thuốc bổ. Khi uống thuốc sẽ gây giảm nguy cơ đông máu, thậm chí tan máu. Hiện chưa có bằng chứng cho thấy dùng thuốc an cung ngưu hoàng hoàn để phòng bệnh có thể giảm nguy cơ mắc bệnh.

PGS Cảnh cũng cho biết, an cung ngưu hoàng hoàn phù hợp với người bị nhồi máu não, còn nếu xuất huyết não (đã chảy máu hoặc vỡ phình mạch não) thì chống chỉ định sử dụng vì có thể làm tình trạng chảy máu nhiều hơn. Hay với bệnh nhân nhồi máu não cục bộ thì có thể dùng, nhưng nhồi máu não lan tỏa cũng làm bệnh nặng thêm, dễ dẫn đến tử vong. Nếu không có chuyên môn và các phương tiện chẩn đoán chính xác tai biến mạch máu não loại nào, tốt nhất không nên cho người bệnh sử dụng. Trong trường hợp gặp người bị tai biến mạch máu não, phải đưa bệnh nhân đến cấp cứu ở bệnh viện ngay.

PGS Cảnh khuyên, y học hiện nay rất tiến bộ, người dân có thể tin tưởng để đưa người bệnh đến cấp cứu kịp thời, bởi 3-4 giờ đầu là “giờ vàng” để cứu sống người bị tai biến mạch máu não. Kể cả bệnh nhồi máu cơ tim cũng vậy, cũng là bệnh cần cấp cứu khẩn cấp vì có thể nguy hiểm đến tính mạng, chậm trễ giây phút nào là từng đó thời gian tim bị thiếu máu, tế bào cơ tim sẽ hoại tử…. cấp cứu muộn dù có khơi thông được mạch khả năng hồi phục cũng kém đi.

PGS.TS Kiều Đình Hùng, Trưởng khoa Ngoại thần kinh, cột sống và chấn thương chỉnh hình, BV Đại học Y Hà Nội cho biết, trong thuốc an cung có chất chống đông máu, nếu bị nhồi máu não thể chảy máu, dùng thuốc này, bệnh nhân dễ tử vong. Thêm vào đó, trong thành phần của an cung có chứa kim loại nặng rất cao, nên người dân khi không biết chính xác nguyên nhân gây tai biến không nên sử dụng.

Theo các chuyên gia tim mạch và đột quỵ, trong trường hợp bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ ở nhà không nên cho bệnh nhân dùng thuốc vì chưa rõ nguyên nhân. Tốt nhất nên để bệnh nhân chỗ thoáng, ngửa cổ, giữ ấm cơ thể vì nếu bị lạnh mạch co lại, làm huyết áp tăng càng dễ chảy máu. Nên đưa bệnh nhân đến trung tâm đột quỵ, tim mạch lớn càng nhanh càng tốt vì trong khoảng thời gian giờ vàng (3-4 giờ đầu), bác sĩ có thể cứu sống được nhiều bệnh nhân đột quỵ.

Hải Yến

Sau phẫu thuật mắt bằng lasi k: Rủi ro nào có thể xảy ra?

Tuy nhiên, phẫu thuật LASIK không phải là phương pháp chữa cận thị phù hợp nhất cho tất cả mọi người và an toàn tuyệt đối. Với một số người, phương pháp này có thể mang lại nhiều rủi ro.

Cũng giống như những loại phẫu thuật khác, phẫu thuật LASIK cũng có rủi ro như: Lỗi khúc xạ (nếu tia laser đốt đi qua ít hoặc quá nhiều hoặc không đồng đều nhu mô trên giác mạc, mắt sẽ không thể nhìn rõ như mong muốn); chứng rối loạn thị giác (sau phẫu thuật có thể những rối loạn thị giác trong môi trường ánh sáng yếu như vào ban đêm, bị lóa, thấy hào quang quanh nguồn sáng hay nhìn thấy hình đôi hay còn gọi là triệu chứng thị giác mới); mắt khô (phẫu thuật LASIK gây giảm nước mắt tạm thời, điều này khiến mắt bị khô sau phẫu thuật); những vấn đề về phiến giác mạc (vạt giác mạc bị lật lên xô lệch lên phía trên có thể gây nhiều biến chứng như nhiễm trùng, chảy nước mắt và sưng tấy)…

Triệu chứng thị giác mới

Theo Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), trong phẫu thuật LASIK, các bác sĩ thực hiện một đường rạch nhỏ trên giác mạc mắt hoặc lớp ngoài cùng. Sau đó, họ sử dụng tia laser để lấy đi một số mô giác mạc, định hình lại nó, nhằm mục đích nâng cao thị lực của người bệnh.

Sau phẫu thuật mắt bằng lasi k: Rủi ro nào có thể xảy ra?Trước khi phẫu thuật lasik, bệnh nhân cần được tư vấn đầy đủ về những vấn đề có thể gặp phải sau phẫu thuật.

Theo một nghiên cứu mới, có một tỷ lệ đáng kể những người đã được mổ LASIK mắt điều chỉnh khúc xạ có thể gặp những tác dụng phụ từ việc phẫu thuật đó. Các nhà nghiên cứu thuộc FDA cũng cho biết, bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng thị giác mới sau phẫu thuật. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã theo dõi 2 nhóm người tham gia trong 6 tháng sau khi phẫu thuật mắt. Nhóm thứ nhất gồm 262 nhân viên hải quân, độ tuổi trung bình là 29. Nhóm thứ hai gồm 312 người dân, độ tuổi trung bình là 32. Những người tham gia nghiên cứu đã thực hiện một cuộc khảo sát về thị lực của họ trước khi phẫu thuật và sau phẫu thuật. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nhận thấy thị lực của người bệnh đã cải thiện sau phẫu thuật. Tuy nhiên, trong số những người không có các triệu chứng trước khi phẫu thuật lasik, thì có 43% trong nhóm hải quân và 46% trong nhóm người dân có một hoặc nhiều triệu chứng mới, chẳng hạn nhìn đôi, chớp sáng, quầng sáng hoặc ánh sao chổi (starbursts), 3 tháng sau khi phẫu thuật.

Mặc dù những người trong nghiên cứu tương đối hài lòng với sự cải thiện thị lực của họ sau phẫu thuật. Tuy nhiên, có khoảng từ 1 - 4% số người tham gia cả 2 nhóm nghiên cứu không hài lòng với thị lực của họ trong vòng 3 - 6 tháng sau phẫu thuật.

TS. Mark Fromer, một bác sĩ nhãn khoa ở Bệnh viện Lenox Hill, New York cho rằng: Các kết quả mới này cho thấy không có một loại phẫu thuật nào là hoàn hảo. Bệnh nhân cần được các bác sĩ thông tin đầy đủ về nguy cơ của các triệu chứng như vậy trước khi quyết định có nên thực hiện phẫu thuật Lasik hay không.

Ông nhấn mạnh: “Phẫu thuật điều chỉnh thị lực bằng laser có thể là một thủ thuật tuyệt vời, nhưng nó cần phải được tiến hành trên đúng người bệnh. Bệnh nhân phải chắc chắn sẵn sàng chấp nhận bất kỳ phản ứng phụ nào có thể xảy ra sau khi mổ LASIK”.

Khô mắt sau phẫu thuật

Khô mắt sau phẫu thuật LASIK là một trong những biến chứng thường gặp với nhiều mức độ nặng nhẹ khác nhau. Đa phần bệnh nhân sẽ gặp phải chứng khô mắt kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm sau khi phẫu thuật. Phẫu thuật LASIK tác động lên trên bề mặt của giác mạc và làm giảm tính nhạy cảm của các dây thần kinh thị giác. Chính vì vậy, tuyến lệ không nhận được tín hiệu để sản xuất đủ lượng nước mắt cần thiết cho sự bôi trơn và duy trì độ ẩm trên bề mặt giác mạc. Nếu không được khắc phục kịp thời, khô mắt sẽ trở thành một hội chứng mạn tính gây kích ứng mắt, tăng phản ứng viêm, thậm chí là để lại sẹo ngay trên bề mặt giác mạc.

Kết quả nghiên cứu tại Trường cao đẳng Dược Baylor ở Houston đã chứng minh rằng, biến chứng khô mắt sau phẫu thuật LASIK thường xảy ra ở những người trẻ tuổi điều trị tật cận thị khi loại bỏ sâu vào mô giác mạc đến mức làm thay đổi hình dáng của giác mạc. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, LASIK còn làm tăng nguy cơ ở những người chưa từng có tiền sử bị khô mắt và tình trạng này xảy ra với tỷ lệ khoảng 25% số bệnh nhân sau 6 tháng phẫu thuật LASIK. Đồng thời, nguy cơ tiến triển bệnh khô mắt có tương quan mật thiết với mức độ cận thị trước phẫu thuật và độ sâu của chùm tia laser khi điều trị. Chính vì vậy, mọi bệnh nhân cần được tư vấn kỹ về nguy cơ sau phẫu thuật LASIK, đặc biệt là những người bị cận thị nặng.

Các trường hợp không nên điều trị bằng Lasik

Các bệnh ảnh hưởng tới hệ thống miễn dịch: Khi bệnh nhân mắc các bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, Lupus) các bệnh suy giảm miễn dịch (HIV) hay dùng thuốc ức chế miễn dịch sẽ khiến giảm hiệu quả chữa trị đồng thời tăng nguy cơ nhiễm trùng cũng như gặp những biến chứng khác.

Sau phẫu thuật mắt bằng lasi k: Rủi ro nào có thể xảy ra?

Bệnh nhân có giải phẫu mắt không phù hợp: Phẫu thuật LASIK không phù hợp cho những người có mắt sâu, giác mạc quá mỏng, cấu trúc giác mạc bất thường như rất mỏng và phình ra theo dạng hình nón hay những vấn đề về giải phẫu mắt khác.

Bệnh nhân có thị giác không ổn định: Bạn sẽ không thể phẫu thuật LASIK nếu áp lực trong mắt quá cao hoặc thị lực không ổn định.

Đang trong thời gian mang thai hoặc cho con bú: Trong thời gian này thị lực không ổn định sẽ làm giảm kết quả của ca phẫu thuật.

BSCKII. Lê Hồng Hà

((Theo Livescience, 2018))

Xét nghiệm máu phát hiện sớm bệnh Alzheimer

Kết quả của nghiên cứu này vô cùng hữu ích cho những nhà khoa học nhằm giúp họ có thể hiểu và điều trị được căn bệnh này.

Hiện Alzheimer chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn

Một trong những trở ngại chính của nghiên cứu đối với bệnh Alzheimer là bệnh lý này chỉ được chẩn đoán xác định ở giai đoạn tương đối muộn. Điều này là do các triệu chứng của bệnh phát triển chậm qua nhiều năm và chỉ trở nên rõ ràng sau khi đã có những biến đổi xảy ra ở não. Chính vì vậy, trước đây, chưa có một phương pháp đơn giản nào có thể phát hiện được liệu bệnh Alzheimer có đang phát triển ở một đối tượng nào đó hay không. Những phương pháp chẩn đoán đáng tin cậy duy nhất bao gồm chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) ở não và phân tích dịch não tủy (thông qua chọc tuỷ). Tuy nhiên, đây là những phương pháp đắt tiền, tốn nhiều thời gian và gây đau hoặc xâm lấn.

Bệnh Alzheimer có thể được phát hiện sớm nhờ xét nghiệm máu.

Bệnh Alzheimer có thể được phát hiện sớm nhờ xét nghiệm máu.

Và phương pháp mới - Phát hiện protein trong máu

Một trong những chỉ dấu quan trọng của bệnh Alzheimer là sự tích tụ bất thường các mảng thoái hoá thần kinh amyloid-beta ở não.Amyloid-beta cũng hiện diện ở não người khỏe mạnh, nhưng ở bệnh nhân Alzheimer, loại protein này gấp cuộn một cách khác thường và tích tụ lại.

Ở dạng gấp cuộn này (dạng phiến), amyloid-beta sẽ gây độc đối với tế bào thần kinh.Các mảng amyloid-beta có thể bắt đầu phát triển trong vòng 15-20 năm trước khi các triệu chứng của bệnh Alzheimer xuất hiện.Dạng protein bệnh lý này là cơ sở của loại xét nghiệm máu có tính đột phá đang được phát triển.

Cơ sở của việc phát triển loại xét nghiệm này là liệu xác định được nồng độ của các dạng amyloid-beta bình thường và bệnh lý ở trong máu có giúp phát hiện được bệnh Alzheimer ở các giai đoạn sớm hay tiền triệu của bệnh hay không. Kỹ thuật sử dụng trong loại xét nghiệm mới này là cảm biến miễn dịch - hồng ngoại. Dựa vào một kháng thể, cảm biến sẽ trích xuất tất cả amyloid-beta trong mẫu máu. Hai dạng amyloid-beta khác nhau sẽ hấp thụ bức xạ hồng ngoại ở những tần số khác nhau cho phép các nhà nghiên cứu đo lường được hàm lượng tương đối của dạng protein bình thường và bệnh lý.

Khác với các phương pháp khác, cảm biến miễn dịch - hồng ngoại không cho biết lượng chính xác của dạng protein bệnh lý, thay vào đó, phương pháp này cung cấp các thông tin về tỷ lệ giữa hai dạng bình thường và bệnh lý. Điều này là có lợi bởi vì nó ít chịu ảnh hưởng bởi những dao động bất thường về hàm lượng protein trong máu. Các kết quả ban đầu của nghiên cứu cho thấy rất khả quan ở những đối tượng có triệu chứng sớm và rất mờ nhạt của bệnh Alzheimer. Xét nghiệm này đã phát hiện được sự thay đổi hàm lượng của amyloid-beta có tương quan với sự lắng đọng bất thường được hiển thị trên hình ảnh chụp não.

Những kết quả đáng kinh ngạc

Bước tiếp theo và là bước quyết định của nghiên cứu là xem xét liệu có thể phát hiện được hàm lượng amyloid-beta trên đối tượng trước khi các triệu chứng Alzhiemer phát triển hay không. Các nhà khoa học đã lấy dữ liệu từ nghiên cứu đoàn hệ ESTHER và tiến hành đánh giá các mẫu máu của những người đã phát triển bệnh Alzheimer rồi so sánh với những người không phát triển căn bệnh này.Trung bình, xét nghiệm này có thể phát hiện được những người mắc bệnh Alzheimer trước khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện là 8 năm. Xét nghiệm này chẩn đoán đúng bệnh Alzheimer trong 70% số ca và chẩn đoán sai ở 9% các trường hợp. Độ chính xác tổng cộng của xét nghiệm vào khoảng 86%.

So sánh với phương pháp chọc tuỷ và chụp quét PET, một xét nghiệm máu đơn giản sẽ có lợi hơn nhiều đối với các nhà lâm sàng cũng như các nhà nghiên cứu. Mặc dù ở giai đoạn này, xét nghiệm nói trên chưa phải là hoàn hảo nhưng nó sẽ là một phương pháp hữu ích để sàng lọc những người có nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer trước khi đưa họ đi kiểm tra toàn diện hơn.

Những phát hiện của nghiên cứu này rất thú vị và sẽ cung cấp một công cụ quan trọng trong cuộc chiến chống lại bệnh Alzheimer.Bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu có kế hoạch sẽ sử dụng kỹ thuật tương tự để phát hiện một chất chỉ điểm là alpha-synuclein có liên quan đến một bệnh lý khác cũng rất khó phát hiện sớm - đó là bệnh Parkinson.

DS. Trần Thái Sơn

((Theo MedicalNewsToday, 09/04/2018))

Chuyên gia Pháp khám tư vấn về tim mạch lồng ngực tại BV Việt Nam

Trong đợt làm việc đầu tiên bệnh viện phối hợp với đoàn chuyên gia Y tế - Bệnh viện Nevers - Cộng hòa Pháp tiến hành khám tư vấn 41 người bệnh. Trong đó có 11 trường hợp được tiến hành chụp, nong, đặt stent mạch vành; 2 trường hợp phẫu thuật cắt u phổi, thùy phổi; 1 ca phẫu thuật mạch máu, 7 trường hợp bị suy tĩnh mạch được điều trị bằng kĩ thuật đốt Laser, Stripping và Muller.

Khám cho bệnh nhân suy tĩnh mạch

7 trường hợp điều trị u tuyến giáp bằng RF. Đối với các trường hợp người bệnh chưa tiến hành phẫu thuật trong đợt này đã được thảo luận thống nhất cách thức điều trị nội khoa, khám theo dõi và lập kế hoạch phẫu thuật – can thiệp trong đợt tiếp theo

Việc hợp tác thường xuyên giữa Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí với các chuyên gia Cộng hòa Pháp, cùng sự hỗ trợ tận tình của các chuyên gia, các bác sĩ bệnh viện đã có những tiến bộ vượt bậc nhanh chóng làm chủ được kĩ thuật, thực hiện những ca phẫu thuật khó, phức tạp.

Đặt stent mạch vành cho bệnh nhân

Đây là cơ hội để các bác sĩ bệnh viện giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình điều trị cho người bệnh có các bệnh lý về tim - mạch và lồng ngực. Từ đó giúp nâng cao hiệu quả điều trị cho người bệnh, đưa bệnh viện ngày một phát triển và trở thành địa chỉ tin cậy cho người dân trong điều trị lĩnh vực tim mạch can thiệp.

Nhị Vũ

Một số nguyên nhân dẫn đến tổn thương gan

Và khi gan bắt đầu đau có nghĩa là tổn thương gan đã chuyển sang giai đoạn khác. Do vậy, bạn nên tìm hiểu một số thông tin liên quan đến các triệu chứng và nguyên nhân dẫn đến các bệnh về gan.

1. Thực tế là gan luôn phải chịu tổn thương và sự viêm nhiễm của các mô xung quanh gan được xem là nguyên nhẫn dẫn đến đau gan.

2. Kết quả của sự viêm nhiễm có thể dẫn đến viêm gan. Điều này lý giải cho những cơn đau xuất hiện dưới các xương sườn. Các ống dẫn mật bị viêm cũng có thể gây đau ở khu vực dạ dày.

3. Sưng, đau, da vàng và các mắt cá sưng là một số các triệu chứng của đau gan. Bạn nên đi khám bác sĩ và tự mình kiểm tra các triệu chứng như trên.

nguyên nhân tổn thương gan

4. Quá nhiều chất béo trong gan có thể gây bệnh gan nhiễm mỡ hoặc một người nghiện rượu có thể bị bệnh gan nhiễm mỡ do nghiện rượu. Bên cạnh bệnh gan nhiễm mỡ không phải từ rượu, cộng đồng khoa học vẫn đang tìm hiểu các nguyên nhân. Một số các yếu tố nguy cơ như béo phì, các bệnh liên quan đến hàm lượng cholesterol và nhiễm virus. Gan nhiễm mỡ có thể gây đau.

5. Xơ gan sẽ gây tổn thương và sẹo trong gan. Ở giai đoạn ban đầu, xơ gan không thể hiện các triệu chứng nhưng các cơn đau sau đó và mức độ nhạy cảm có thể xuất hiện ở vùng ổ bụng.

6. Uống nhiều rượu và nhiễm trùng như viêm gan C có thể dẫn đến xơ gan. Một số triệu chứng của xơ gan bao gồm ngứa da, mệt mỏi, buồn nôn, sụt cân và chân bị sưng.

7. Viêm gan có thể gây đau ở vùng gan. Một số triệu chứng khác như mệt mỏi, sốt, đau khớp và đau người. Da bị vàng, nước tiểu ngả màu sẫm và phân chuyển màu sáng.

8. Bệnh bạch cầu đơn nhiễm khuẩn là bệnh truyền nhiễm do vi rút, gây đau ở vùng gan. Viêm họng, sốt, hạch bạch huyết sưng và đau gan là một số triệu chứng của bệnh.

9. Nang gan là các túi chứa đầy chất lỏng hình thành bên trong gan. Nang gan có xu hướng làm gan sưng và đau.

10. Bệnh thừa sắt là một tình trạng bệnh lý do quá trình tích tụ sắt trong gan. Một số triệu chứng như sụt cân, yếu, đau khớp và đau dạ dày. Có nhiều sắt trong gan có thể gây tổn thương gan.

11. Ung thư gan cũng có thể gây đau đớn. Các khối u làm phình gan và gây đau dữ dội. Giảm cân đột ngột, đau dạ dày, đau vai (hướng về phía bên phải), vàng da và lách bị sưng là một số các triệu chứng của ung thư gan.

BS. Tuyết Mai

(Theo Boldsky)

Nhiều nguyên nhân viêm gan mạn tính

Lạm dụng chất cồn là tình trạng viêm và hoại tử tế bào gan và có thể diễn tiến đến xơ gan do rượu bia. Theo thống kê, khoảng 90% người lạm dụng rượu, bia bị gan nhiễm mỡ, 20 - 40% bị viêm gan, 10 - 25% dẫn tới xơ gan. Người bệnh xơ gan có khoảng 3 - 7% dẫn tới ung thư gan.

Dùng thuốc không đúng cách là một vấn đề khá phổ biến hiện nay do thói quen sử dụng thuốc không đúng cách, lạm dụng thuốc dẫn đến quá liều hoặc kéo dài, tự ý uống thuốc. Hầu hết các thuốc dù được dùng bằng đường uống, đường tiêm, xịt hít qua mũi hay dán trên da... đều được chuyển hóa tại gan. Sự tích tụ thuốc do lạm dụng thuốc không được chuyển hóa và khử độc có thể gây ngộ độc và gây viêm gan do thuốc.

Thực phẩm “bẩn” không chỉ chứa những loại virut, vi khuẩn, ký sinh trùng mà còn chứa rất nhiều các loại chất hóa học, chất bảo quản, tồn dư chất bảo vệ thực vật, kháng sinh, chất tạo nạc… Các chất này chính là nguyên nhân của 200 căn bệnh, từ tiêu chảy đến ung thư. Ước tính mỗi năm có đến 600 triệu người mắc bệnh. Khi vào cơ thể, các chất độc hại trong thực phẩm “bẩn” khiến gan sớm suy yếu vì nhiễm độc. Sử dụng các loại thực phẩm “bẩn” đặc biệt có chứa độc tố vi nấm aflatoxin chính là thủ phạm gây ung thư.

Gan nhiễm mỡ không do rượu là tình trạng tích tụ mỡ trong tế bào gan, với tỷ lệ bệnh dao động trong khoảng 15 - 30% dân số tùy theo quốc gia và có xu hướng ngày càng phổ biến. Trước đây, người ta nghĩ rằng bệnh không nguy hiểm, nhưng 10-20% bệnh nhân gan nhiễm mỡ kèm men gan tăng có thể diễn tiến đến xơ gan hay ung thư gan. Gan nhiễm mỡ thường liên quan với tình trạng thừa cân hay béo phì, tiểu đường, rối loạn mỡ máu, ít vận động thể lực...

Nhiều nguyên nhân viêm gan mạn tínhNhững người bệnh xơ gan có đến 3-7% tiến triển thành ung thư gan.

Tiến triển bệnh

Biểu hiện lâm sàng của viêm gan mạn tính không thống nhất, một số người bệnh không có cảm giác khó chịu trong thời kỳ đầu, số khác cảm thấy chán ăn, mệt mỏi, nhiệt thấp, bụng trên khó chịu. Người bệnh nặng sau một thời gian dài ủ bệnh sẽ tổn hại gan nghiêm trọng, gây ra nhiều loại bệnh gan.

Khi viêm gan mạn tính tấn công vào các tế bào gan liên tục sẽ gây tổn thương cho các mô gan, mô gan tổn thương dần được thay thế bằng sẹo, mô xơ dần dần lan rộng khiến cho gan của người mắc bệnh bị xơ hóa dẫn đến mất các chức năng gan. Các biểu của bệnh xơ gan không rõ ràng nên rất khó phát hiện bệnh sớm, thường thì ở giai đoạn cuối mới có thể phát hiện ra, lúc này bệnh ở giai đoạn không thể phục hồi. Ung thư gan là biến chứng nặng của viêm gan mạn tính, nguy cơ tử vong của bệnh ung thư gan cao. Những người bị mắc bệnh viêm gan b mạn tính sẽ có khả năng mắc ung thư gan cao hơn khoảng 20 lần so với những người bình thường. Triệu chứng của bệnh ung thư gan là cường lách, đau bụng, phù bụng, sốt, giảm cân.

Các biến chứng của bệnh viêm gan mạn tính vô cùng nguy hiểm; vì vậy khi phát hiện bị viêm gan, cần có biện pháp điều trị nhanh chóng để không chuyển sang viêm gan mạn tính dẫn tới những biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe.

Các biện pháp bảo vệ gankhỏe mạnh

Để bảo vệ gan của bạn khỏe mạnh, bảo vệ mình khỏi một số những yếu tố nguy cơ, nên: Tầm soát sớm bệnh viêm gan mạn tính. Cần thường xuyên tập thể dục, ăn uống đúng cách. Tránh thừa cân, béo phì. Tránh làm việc căng thẳng, lối sống quân bình. Giảm lạm dụng chất kích thích, cồn. Dùng thuốc trị bệnh theo đúng hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Tiêm phòng vắc-xin viêm gan A, B.

Quan hệ tình dục an toàn. Nếu không biết rõ tình trạng sức khỏe, nên dùng bao cao su. Không tiêm chích ma túy. Không xăm mình. Cần khám sức khỏe định kỳ mỗi 6 tháng 1 lần để phát hiện sớm ra bệnh.

Bs. Phạm Văn Hưng